Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

QUÝ CHA THẦY MỪNG THO




Nhấn vào từng khung để xem hình
Bạn nào biết rõ năm sinh từng vị xin xép thứ tự theo năm sinh.(Phiên)
Cha LỮ chưa có hình,ai có hình Cha Lữ cho xin đi !
Văn Phương đã gửi hình cha Lữ chụp ngày xưa ở KTX Và hình cận cảnh để tuỳ nghi sử dụng
VPhương

CHÚC THỌ

         Danh sách các Linh Mục Tu Sĩ Tỉnh dòng Phanxico trên 70 tuổi :
                         Xem hình tại trang PHOTOS
1.Cha Augustinô Nguyễn Trinh Phượng, 94 tuổi
2.Thầy Tôma Huỳnh Thông,                  93 tuổi
3.Thầy Philipphê Lê Văn Tâm,               92 tuổi 
4.Cha Benoit Trần Minh Phương,           91 tuổi
5.Cha Phêrô Baptiste Đỗ Long Bộ,        88 tuổi, (RIP 2/10/09)
6.Thầy Clement Nguyễn Văn Dung,        87 tuổi
7.Thầy Fidèle Lê Trọng Nhung,              85 tuổi
8.Cha Phaolô Nguyễn Văn Hồ,               84 tuổi
9.Thầy Benjamin Nguyễn Tất Pháp,        84 tuổi
10.Cha Gentil Trần Anh Thi,                   83 tuổi
11.Thầy Giêrađô Trần Văn Liên,             82 tuổi
12.Cha Clement Trần Thế Minh,             81 tuổi
13.Thầy Gioan Maria Nguyễn Văn Đoài, 79 tuổi
14.Thầy Noel Trần Hữu Liên,                  77 tuổi
15.Cha Đamianô Đoàn Văn Lữ,               75 tuổi
16.Thầy Carôlô Nguyễn Thành Triệu,      75 tuổi
17.Cha Matthêu Nguyễn Vinh Phúc,        74 tuổi
18.Cha Ignaxiô Ngô Đình Phán,              74 tuổi
19.Cha Anrê Trần Hữu Phương,              73 tuổi
20.Cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh,          73 tuổi
21.Cha Xaviô Nguyễn Chí Chức,            72 tuổi
22.Cha Ghiđô Maria Nguyễn Hồng Giáo, 72 tuổi
23.Cha Gioan Bosco Nguyễn Văn Đình, 72 tuổi
24. Cha Phi Khanh Vương Đình Khởi,     71 tuổi.
Hải Ngoại :
25. Cha Samuel Trương đình Hòe            85 tuổi
26. Cha Etienne Nguyễn Mạnh Tân           79 tuổi
            GĐCPS VN xin Chúc Mừng Quý Cha,Quý Thầy.

CON ĐƯỜNG NHỎ


CON ĐƯỜNG NHỎ
(bài do A,Đặng Ngọc L61TĐ gữi từ Pháp)
                                        
Sắp đến ngày kính nhớ thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, tiến sĩ Hội thánh. Đây là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại sứ điệp của thánh nữ. 
Têrêsa Martin sinh ngày 21-1-1873 tại Alenxon, miền Normandie, Pháp quốc. Cô là con út của một gia đình có chín người con, trong đó có bốn người mất sớm nên Têrêsa rất được cha mẹ và các anh chị em cưng chiều. Bốn tuổi rưỡi, mẹ cô mất, gia đình dời về Lisieux. Cô lớn lên trong nề nếp trưởng giả của một gia đình trung lưu tỉnh lẻ với lối giáo dục kín cổng cao tường. 
Khi Têrêsa lên chín tuổi, người chị lớn Pauline vào dòng kín Camelle tại Lisieux. Têrêsa ngã bệnh nặng vì mất đi người chị thân yêu mà cô đã xem như người mẹ thứ hai, nhưng cô đã được chữa khỏi sau khi thị kiến Đức Mẹ hiện ra mỉm cười với cô. Khi Têrêsa lên mười ba, một người chị khác là Marry cũng nối gót người chị cả vào dòng Kín. Têrêsa lại càng buồn thêm, tâm hồn cô lúc nào cũng buồn phiền xao xuyến. 
Nhân dịp lễ Giáng sinh năm 1887, khi đi lễ đêm về cô đã trải qua một sự biến đổi hoàn toàn.Trong quyển Tự thuật, Têrêsa đã ghi lại như sau: 
“Tôi cảm thấy tình yêu thấm vào trái tim tôi. Tôi cảm thấy cần phải quên mình để làm đẹp lòng tha nhân. Và kể từ đó, tôi sống hạnh phúc”. 
Mấy tháng sau, cô cùng người cha già và người chị thứ tư cùng với một phái đoàn hành hương về Rôma yết kiến Đức Thánh Cha Lêô XIII. Ngài xin cho cô được gia nhập dòng Kín sớm hơn tuổi được giáo luật qui định. 
Ngày 9-4-1888, khi cô bước chân qua ngưỡng cửa đan viện Lisieux, thì dòng này cũng vừa mừng năm mươi năm thành lập. Đây là một dòng tu khắc khổ, chay tịnh bảy tháng một năm, suốt đời kiêng thịt, cấm khẩu suốt ngày. Cho nên các chị lớn tuổi trong nhà vô cùng thán phục Têrêsa, vì cô lúc nào cũng tuân thủ luật dòng với tinh thần điềm đạm, vui tươi. 
Từ những năm đó, Têrêsa đã sống và âm thầm loan truyền sứ điệp của mình là yêu và chấp nhận được yêu, và càng ngày càng trở nên nhỏ bé để được Thiên Chúa bồng bế trên tay Ngài, cũng như tự hiến lễ làm hy lễ tình yêu lân tuất của Thiên Chúa và tận tụy làm vinh danh Giáo Hội bằng cách cứu vớt các linh hồn. 
Tuy sống trong dòng Kín, Têrêsa đã ước mong được đi truyền giáo ở Đông Dương, nhưng chị đã bị nhiễm bệnh lao phổi. Những cơn gió lùa lạnh buốt của tu viện, đời sống khắc khổ đã nhanh chóng làm cho sức khoẻ chị suy sụp. Trong mười tám tháng cuối đời, chị đã vâng lời bề trên viết lại tiểu sử đời mình. Ngày 30/9/1897, Têrêsa trút hơi thở cuối cùng hay như chị nói: “Tôi không chết, tôi đi vào cõi sống”. 
*** 
Năm 1923, Têrêsa được phong chân phước. Hai năm sau, chị được Đức Piô XI tôn phong lên bậc hiển thánh, và năm 1998 được Đức đương kim Gioan Phaolô II phong làm tiến sĩ Hội thánh. 
Qua cuốn Tự thuật của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Giáo Hội đã khám phá ra một linh đạo mới mẻ thường được gọi là con đường nhỏ. Theo thánh nữ, làm thánh không phải là những chuyện phi thường để đâu đấy tỏ, mà đơn giản chỉ là chấp nhận để Thiên Chúa yêu thương mình. Con đường nhỏ mà thánh nữ đã vạch ra quả là một sứ điệp phù hợp với thời đại, nhất là với giới trẻ. Giới trẻ hâm mộ thánh nữ không những vì Ngài là một vị thánh trẻ, mà vì thánh nữ có đức tính triệt để đơn giản. Thánh nữ đã thực hiện được một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất thế giới. 
Thế giới vẫn luôn luôn cần có những cuộc cách mạng, nhưng cách mạng bạo động, dù là để đạt được mục tiêu vĩ đại và cao cả đến đâu vẫn mãi mãi là những bước thụt lùi trong lịch sử nhân loại. Cũng như thánh Phanxicô Assisi đã làm một cuộc cách mạng mà ngay cả Lênin cũng thán phục, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu không những đã vạch ra cho Giáo Hội một con đường tu đức mà còn khởi xướng một cuộc cách mạng cho thế giới. Linh hồn của cuộc cách mạng đó là chấp nhận để cho Thiên Chúa yêu thương, sống sung mãn giây phút hiện tại, quên mình để sống cho tha nhân. Dù có thừa mứa của cải và tiện nghi vật chất, con người thời đại cũng sẽ mãi mãi bất hạnh nếu họ chưa sống theo tinh thần của con đường nhỏ mà thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã vạch ra. 
*** 
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con phải trở nên như trẻ thơ mới có thể vào Nước Trời. Nhờ lời thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con luôn biết sống tín thác như thánh nữ. Amen. 
R. Veritas

E-MAIL HAY NHẤT 2009

Do A.ĐẶNG NGỌC (L61TĐ gữi từ Pháp)
Xin tặng các Chị là dâu Phan sinh!



E-mail được bình-chọn hay nhất trong năm qua kể câu chuyện này:

Có một gã đàn ông kia chán ngấy việc mình phải đi làm mỗi ngày trong khi vợ thì cứ ở nhà. Anh ta muốn vợ thấy những việc anh phải cáng đáng ở sở nên cầu nguyện như sau:

“Lạy Chúa, con phải đi làm mỗi ngày và phải cực nhọc suốt 8 tiếng đồng hồ ở sở làm, trong khi vợ con thì tà tà ở nhà.
Con muốn vợ con biết những gì con phải trải qua, xin Chúa tráo đổi thân hình nàng và con chỉ một ngày thôi. Amen”.

Trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, Đức Chúa Trời bèn chấp thuận và hoàn thành điều ước của gã đàn ông. 

Ngay sáng hôm sau, gã thức dậy trong cơ thể người đàn bà. 

Gã ra khỏi giường , làm bữa ăn sáng cho người “chồng” của mình, đánh thức các con, mặc đồ đi học cho chúng, cho chúng ăn sáng, sửa soạn đồ ăn trưa mang theo, chở chúng tới nhà trường, chạy về nhà lấy quần áo đem đi tiệm giặt sấy và ghé nhà băng gửi tiền, đi chợ mua thức ăn, đoạn về nhà quăng thức ăn vào tủ lạnh, ngồi trả bills và tính toán tiền bạc trong trương mục.

Anh ta chùi rửa hộp đựng phân mèo, tắm con chó.
Lúc đó đã đến 1 giờ trưa và anh ta lật đật sắp xếp giường ngủ, soạn quần áo dơ bỏ vào máy giặt, hút bụi, lau nhà, chùi sàn nhà bếp.

Chạy đến trường chở các con và suốt đường về phải cải vả với chúng. Lấy sữa và bánh cho các con xong, cho chúng vào bàn ngồi làm bài tập thầy cô đã cho mang về làm, xong lại dọn ra bàn ủi đồ, vừa ủi quần áo vừa xem TV. 

Đúng 4:30 anh ta bắt đầu gọt khoai tây, rửa rau làm sà lách sửa soạn các món thịt dành cho bữa ăn chiều.
Sau bữa ăn chiều, anh ta lau bếp, bỏ chén dĩa vào máy rửa chén, xếp quần áo vừa giặt xong, mang các con ra tắm, và đưa chúng vào đi ngủ.

Vào 9 giờ đêm anh ta đã mệt đờ người, dù mọi chuyện nhà vẫn chưa xong, cũng phải lên giường, rồi cũng phải “trả bài” cho “chồng”, mệt cũng phải rán cho qua cuộc làm tình.

Sáng hôm sau, anh ta thức giấc và lập tức quì cạnh giường và cầu nguyện: “Chúa ơi, con không biết những điều con đã suy nghĩ. Con đã quá lầm lẫn mà ganh tỵ với việc vợ con ở nhà suốt ngày.
Chúa ơi, xin giúp con được tráo đổi lại vai trò như cũ.”
Đức Chúa Trời, trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, trả lời:
“Con yêu quí, Ta cảm nhận được là con đã học được bài học nên sẵn lòng cho con tráo đổi lại như cũ.
Nhưng con phải đợi 9 tháng, vì tối hôm qua con đã thọ thai!"

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

NGUỒN GỐC KINH HÒA BÌNH

Nguồn gốc Kinh Hoà Bình

Năm 1912, tại Pháp, có một tờ báo nhỏ tên là La Clochette (Cái Chuông Nhỏ) in một bài kinh với tựa đề là Belle prière à faire pendant la Messe (Một Kinh hay để dọc trong Lễ) . Bài kinh không có đề tên tác giả là ai . Tờ báo này phát hành ở thủ đô Paris do một hội đoàn có tên là La Ligue de la Sainte-Messe (Hội Thánh Lễ), của cha Esther Bouquerel (1855-1923) . Người ta đã đồn là có thể cha Bouquerel viết mà dấu tên .

Năm 1915, bản kinh này đã gửi sang Đức Giáo Hoàng Benêdictô XV bằng tiếng Pháp . Chẳng bao lâu sau đó, bản kinh bằng tiếng Ý được in trên báo L’Osservatore Romano tờ nhật báo chính thức của Vatican . Năm 1920, lời kinh này đã được một cha dòng Phanxicô người Pháp in đằng sau tấm hình của thánh Phanxico với tựa đề là Prière pour la paix(Kinh cầu cho hoà bình) , cha cũng không nói gì đến thánh Phanxico là tác giả . Khoảng thời gian giữa hai cuộc đại chiến, bản kinh này được lưu truyền rộng rãi ở Âu châu và đã được dịch sang tiếng Anh .

Lần đầu tiên mà người ta thấy Kinh câu cho hoà bình này nhắc đến thánh Phanxicô là tác giả là năm 1927, do một phong trào thệ phản của Pháp là Les Chevaliers du Prince de la Paix (Những Kỵ Binh của Hoàng tử Hoà Bình) . Bản dịch tiếng Anh mà đa số mọi người biết là bản dịch năm 1936, xuất bản trong cuốn Living Courageously do tác giả Kirby Page xuất bản . Ông này đã khẳng định là Thánh Phanxicô thành Assisi là tác giả . Trong thế chiến thứ hai và ngay sau thời chiến tranh vừa chấm dứt, kinh cầu cho hoà bình này đã được phổ biến rất rộng rãi . Người ta quen gọi làKinh của thánh Phanxicô . Sau này, trong những sách của Đức Hồng Y Spellman, một tu sĩ dòng Phanxicô và cũng là một nhà giảng thuyết rất hùng hồn của nước Hoa Kỳ , đều có trích dẫn lời kinh này . Dần dần với phong trào yêu chuộng hoà bình trên thế giới, kinh này đã được mọi tôn giáo đón nhận như là lời cầu xin tha thiết nhất dâng lên Đấng Tối Cao . ( Theo trang web http://www.franciscan-archive.org/franciscana/peace.html )

Không biết bản văn phóng tác sang tiếng Việt của lời kinh này có từ khi nào, nhưng bài hát tựa đề Kinh Hoà Bình của cha Kim Long đã là bản dịch tâm tình nhất, cảm xúc nhất, và lời kinh này đã đi sâu vào lòng những người Công Giáo Việt Nam nhiều nhất. Đối với thế hệ của chúng ta, bài hát này đã đi vào mạch máu, vào cốt tuỷ, vào mạch sống . Chúng ta đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh . Chúng ta đã đau thương nhiều, đã mất mát rất nhiều vì những cuộc chiến man rợ, vô nghĩa .

Với tâm tình cầu nguyện cho Hoà Bình thế giới, và cho sự an bình trong mỗi người chúng ta, xin anh chị em dành đôi phút suy niệm với bản kinh này .


Kinh Hoà Bình

Lạy Chúa từ nhân!
Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cu bình an của Chúa
Ðẻ con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Ðem thứ tah vào nơi lăng nhục
Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,
Ðể con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, Ðem niềm vui đến chốn u sầu.

Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.

Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, 
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. 

Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con, 
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện - chí 
ơn an bình.

http://www.dinh.dk/pdf/kinhhoabinh.pdf

Xin mời nghe ở đây: http://ThanhCaVietNam.org/ThanhCaVN/#Play,3448

Rât nhiều tác giả khác cũng có những bài sáng tác theo Kinh Hòa Bình này, Nếu anh chị em biết xin cùng post lên .


Belle prière à faire pendant la Messe


Seigneur, faites de moi un instrument de votre paix. 
Là où il y a de la haine, que je mette l’amour. 
Là où il y a l’offense, que je mette le pardon. 
Là où il y a la discorde, que je mette l’union. 
Là où il y a l’erreur, que je mette la vérité. 
Là où il y a le doute, que je mette la foi. 
Là où il y a le désespoir, que je mette l’espérance. 
Là où il y a les ténèbres, que je mette votre lumière. 
Là où il y a la tristesse, que je mette la joie. 
Ô Maître, que je ne cherche pas tant à être consolé qu’à consoler, 
À être compris qu’à comprendre, 
À être aimé qu’à aimer, 
Car c’est en donnant qu’on reçoit, 
C’est en s’oubliant qu’on trouve, 
C’est en pardonnant qu’on est pardonné, 
C’est en mourant qu’on ressuscite à l’éternelle vie.


( La Clochette, n° 12, déc. 1912, p. 285 )


Bản dịch tiếng Anh nguyên thuỷ:


Lord, make me an instrument of Thy peace; 
where there is hatred, let me sow love; 
where there is injury, pardon; 
where there is doubt, faith; 
where there is despair, hope; 
where there is darkness, light; 
and where there is sadness, joy. 
O Divine Master, 
grant that I may not so much seek to be consoled as to console; 
to be understood, as to understand; 
to be loved, as to love; 
for it is in giving that we receive, 
it is in pardoning that we are pardoned, 
and it is in dying that we are born to Eternal Life. 
Amen. 


Lời của một bài hát tiếng Anh rất phổ thông :

Make me a channel of your peace
Where there is hatred let me bring you love.
Where there is injury, pardon Lord,
And where there is doubt, true faith in You.

Make me a channel of your peace.
Where there’s despair in life let me bring hope.
Where there is darkness, only light
And where there’s sadness only joy.

O Master grant that I may never seek
So much to be consoled as to console,
To be understood as to understand
To be loved as to love with all my soul.

Make me a channel of your peace
It is in pardoning that we are pardoned,
It is in giving to all men that we receive
And in dying that we are born to eternal life 


Bản Dịch và lời chú giải của Mẹ Terêsa.

Lord, make me an instrument of peace.
Where there is hatred, may I bring love;
Where there is offense, forgiveness;
Where there is doubt, faith;
Where there is desperation, may I bring hope;
Where there is sadness, let me bring joy;

Allow me to console, rather than to be consoled;
To understand, rather than to be understood;
To love, rather than be loved;
Because, giving is receiving;
Because, it is in forgiving, that we are forgiven;
It is in dying, that we are born to eternal life."


The Final Analysis 

Lời chú giải sau cùng của Mẹ Terêsa .

People are often unreasonable, illogical, and self-centered; ...Forgive them anyway. 

If you are kind, people may accuse you of selfish, ulterior motives; ... Be kind anyway. 

If you are successful, you will win some false friends and some true enemies; ... Succeed anyway. 

If you are honest and frank, people may cheat you; ... Be honest and frank anyway. 

What you spend years building, someone could destroy overnight; ... Build anyway. 

If you find serenity and happiness, they may be jealous; ... Be happy anyway. 

The good you do today, people will often forget tomorrow; ... Do good anyway. 

Give the world the best you have, and it may never be enough; ... Give the world the best you've got anyway. 

You see, in the final analysis, it is between you and God
; It was never between you and them anyway. 

Adapted from Mother Teresa enlarged and framed sign, hung in the front lobby of her Nirmala Shishu Bhavan, the children’s home in Calcutta 




Edited by - Trantrungtruc on 10/04/07 18:05

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

PHIÊN TÒA PSTT

(CPS cũng có những vấn đề na ná ,nên Post "Phiên tòa..." này cho ACE CPS đọc và "đề cao cảnh giác!" )
                                                VỤ  ÁN  PHAN  SINH
                                                    (Chuyện vui tưởng tượng)
Phiên tòa khai mạc.
Lục sự:  Hôm nay ngày  ...
              Tòa xử vụ án: Chị Mai thị Nhỏ kiện Dòng Phan Sinh Tại Thế Montréal về tội “Phá hoại gia cang” và tội “dụ dỗ chồng chị là anh Lê văn Hạnh bỏ bê gia đình”.
Nguyên đơn:   Chị Mai thị Nhỏ với 2 nhân chứng là anh Lê văn Hạnh (chồng chị) và bà Nguyễn thị Hai, người chứng.
Bị cáo:   Dòng Phan Sinh Tại Thế Montréal do ông Lê văn Tốt đại diện và Nguyễn thị Tâm, Nguyễn thị Lành làm chứng.
Chánh án:  Vì thời giờ gấp rút, năm hết Tết đến, ai cũng chuẩn bị ăn Tết, và cũng thể theo lời yêu cầu của cả hai bên “nguyên, bị” Tòa cho phép hai bên trực tiếp đối chất, và trả lời Tòa, không cần nhờ luật sư. Bây giờ, chị Mai thị Nhỏ muốn trình báo gì trước Tòa, nói đi, cần nhất là phải thành khẩn, khai báo sự thật, đúng người, đúng việc.
Mai thị Nhỏ: Kính thưa quí Tòa, tôi xin kiện trước ba Tòa quan lớn là Dòng Phan Sinh Tại Thế Montréal đã phá hoại gia đình tôi, quyến rủ chồng tôi bỏ bê gia đình.
Chánh án: Xin chị nói rõ hơn và nêu bằng chứng cụ thể.
Mai thị Nhỏ: Thưa Ông Chánh án, vợ chờng tôi ăn ở với nhau đã 3 mặt con, chúng tôi thương yêu nhau lắm và không bao giờ rời nhau nửa bước. Vậy mà từ ngày chồng tôi bị dụ dỗ vào Hội Phan Sinh, tuần nào chồng tôi cũng xin phép vắng nhà nói rằng là đi họp đi hành, đi công tác tông đồ, để tôi ở nhà bơ vơ một mình, lại thường là ngày nghỉ cuối tuần. Thế có buồn có tức không chớ?
Lại nữa, ở nhà, hễ có đồng tiền lẻ nào, hay tôi có làm rơi cắc bạc nào là anh ấy gom hết trơn, bỏ vào trong cái lon côca nói là để gởi cho mấy người cùi ở Việt nam quê nhà.
Đó quí vị xem, đã mất người đỡ đần việc nhà, lại còn mất tiền mất bạc, thế thì tôi chịu sao nổi? Hu..hu..hu...
Chánh án: (gõ bàn cốc..cốc..cốc..cốc..) Chị Mai thị Nhỏ! Trước Tòa không được khóc, chỉ được khai báo thôi, nghe chưa?
Bây giờ đến lượt ông Lê văn Tốt, đại diện Dòng Phan Sinh, ông trả lời thế nào về lời cáo buộc của chị Mai thị Nhõ ?
Lê văn Tốt: Thưa quí Tòa, Dòng Phan Sinh Tại Thế chúng tôi là một tổ chức tôn giáo, hoạt động vô vị lợi, có mục đích giúp các hội viên sống yêu thương bác ái theo gương Cha Thánh Phanxicô chúng tôi, người đã sáng lập ra Dòng Phan Sinh. Nói cách khác, Dòng Phan Sinh  giúp cho các anh chị em Hội viên sống đẹp đời, đẹp đạo, sống cho có Hạnh phúc.
Công tố viên:  Thưa ông Chánh án, bị can vừa mới nói : Dòng Phan Sinh giúp hội viên sống hạnh phúc. Nhưng chúng ta thấy đó, từ khi anh Hạnh vào Phan Sinh, gia đình anh cứ lục đục. Anh lại thường bỏ nhà ra đi một mình, để chị Nhỏ ở nhà bơ vơ buồn tủi. Thế là hạnh phúc sao?
Nguyễn thị Hai : (người chứng của chị Nhỏ) Thưa tòa đúng đó. Tôi thấy hồi trước anh Hạnh nói nhiều, tuần nào cũng chở vợ con đi ăn, đi chơi phố. Bây giờ ảnh ít nói lắm.
Chánh án : Anh Lê Văn Hạnh, anh trả lời thế nào về các thay đổi của anh từ ngày vào Phan Sinh? Dòng Phan Sinh đã bảo anh làm những gì?
Lê văn Hạnh : Thưa ông Chánh Án, hồi trước tôi bạn bè nhiều, ăn nhậu nhiều nên nói nhiều. Từ khi vào Phan Sinh, tôi để chút thì giờ tu tỉnh. Mỗi chúa nhật đầu tháng tôi đi họp rồi thỉnh thoảng tôi đi tông đồ; đi thăm người bệnh, đi bán bazar lấy tiền giúp người cùi. Ở nhà tôi vẫn thương yêu chăm sóc vợ con còn hơn trước nữa. Nhưng mỗi lần tôi nói về Phan Sinh thì bả nhảy vào họng tôi bả ngồi thì làm sao tôi  nói được? Tôi im, khỏi nói nữa.
Mai thị Nhỏ : Ai biểu ảnh kêu tôi dữ quá. Chỉ có mấy bà, mấy cô trong Phan Sinh là hiền, là dễ thương thôi. Nhất là mấy cô trong nhóm trẻ của ảnh !!!??
Chánh án : Anh Lê văn Hạnh, anh có biết rằng quà tặng nhiều khi không quan trọng bằng cách tặng, điều anh nói có khi không quan trọng bằng cách anh nói. Anh nói gì hay anh nói làm sao mà vợ anh cứ không cho anh nói?  Còn một điều cấm kỵ nữa là không được khen một người phụ nữ nào đẹp hay hiền trước mặt vợ mình. Anh biết không? Thôi. Mời bà Nguyễn thị Tâm cho biết anh Hạnh làm gì mỗi lần anh nói là anh đi làm tông đồ.
Bà Nguyễn thị Tâm : Tôi phụ trách Ban Tông đồ trong Phan Sinh. Tông đồ là đi làm phước, đi thăm người bịnh ở nhà thương hay ở nhà, đi thăm người già hay gia đình nào có chuyện buồn, chuyện trục trặc. Tôi già cả rồi đi đâu phải có người đưa đi. Anh Hạnh, ảnh tốt lắm, lần nào tôi nhờ đưa tôi đi tông đồ là không bao giờ ảnh từ chối. 
Bà Trần thị Lành : (người chứng) Thưa tòa, tôi phụ trách « nhóm Hàn mặc Tử » chuyên quyên góp tiền bạc hay hiện vật bán lấy tiền gởi giúp mấy người cùi ở bên nhà. Anh Hạnh thường đi với tôi thâu lượm lon bia, lon nước ngọt, hoặc ai có đồ gì còn xài được họ cho. Tụi tôi xin về rồi thỉnh thoảng bán bazar cũng thâu được khá bộn. Anh Hạnh ảnh tích cực lắm đó. Mà dzui dzẻ nhứt trong nhóm nữa. Tết này mấy người cùi ở bên nhà cũng có được chút ít gì ăn Tết chớ. Tội nghiệp.
Mai thị Nhỏ : (nhảy lên, vung tay)  Đó, đó, mấy người thấy đó. Ra ngoài đường đi với người ta thì ... dzu...i. dzẻ, về đến nhà thì cái mặt chằm, quằm !
Chánh Án : (gõ bàn cốc...cốc...cốc)  Chị Mai thị Nhỏ, đây là tòa án, yêu cầu ăn nói có trật tự, không được...nhảy vào họng người khác !
Công tố viên : Thưa ông Chánh Án, rõ ràng là gia đình chị Nhỏ vẫn bất hòa, mối bất hòa to lớn không thể giải quyết được chỉ vì anh Hạnh gia nhập hội Phan Sinh. Đề nghị tòa nghiêm khắc với anh Hạnh và hội Phan Sinh.
TÒA NGỪNG HỌP ĐỂ « NGHỊ ÁN » 1 GIỜ.
Lục sự xuất hiện mời mọi nguời vào Phòng Án.
Lục sự :  Yêu cầu mọi người đứng lên để nghe Tòa công bố bản quyết định của Tòa.
« Sau khi nghiên cứu Luật và Hiến Chương của Dòng Phan Sinh Tại Thế,
Chiếu Quyết định Thành lập và Quyền hạn của Toà, Tòa quyết định :
Điều 1 : Dòng Phan Sinh Tại Thế Montréal là một tổ chức tôn giáo rất tốt, chuyên khuyên dạy mọi người ăn ở hiền lành, sống vui vẻ hòa nhã, bác ái, rất đáng được mọi người hưởng ứng gia nhập cho đông đảo để xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Dòng Phan Sinh hoàn toàn vô can trong vấn đề của chị Nhỏ và anh Hạnh.
Điều 2 : Tòa tuyên bố cảnh cáo anh Lê văn Hạnh. Anh gia nhập Phan Sinh, anh đã mang Đạo vào Đời mà không mang Đạo vào Nhà, không mang được tinh thần Hoà bình của Phan Sinh vào gia đình để gây nên hiểu lầm, lộn xộn.
Tòa cũng khuyên cáo anh nên làm hòa với vợ anh và trình bày những điều anh học được, anh làm ở Phan Sinh với vợ anh một cách từ tốn, lịch sự và thuyết phục hơn.
Điều 3 : Tòa thông cảm hoàn cảnh chị Mai thị Nhỏ thường bị anh Hạnh bỏ một mình ở nhà. Tòa đề nghị chị theo sát anh Hạnh...không rời nửa bước, ở nhà cũng như lúc anh đi họp, đi tông đồ. Nếu cần, chị cứ gia nhập Dòng Phan Sinh để « theo dõi » anh và ... học tập, tu tỉnh chung với anh vì trong một gia đình, cả hai vợ chồng cùng vào Phan Sinh thì tốt hơn và cũng phù hợp với câu của ông bà ta « Đàn ông ở một mình không tốt ».
Tòa truyền cho các bên liên can thi hành nghiêm chỉnh quyềt định này.
Làm tại Montréal, ngày ...
                                                                                    Nguyễn Đình Nam
(Lớp 61TĐ,viết từ CANADA)

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009

TÂM TÌNH KTX

Các Cha, các Thầy kính yêu,
 Trong tâm tình tri ân cảm tạ những người Cha, người Thầy đã dạy dỗ, nuôi nấng từ ngày bước vào học ở KTX Phanxicô Nha trang năm đầu tiên, cho tới khi lên ĐTV vào năm 1972 và chuyển hướng một năm sau đó, Con vẫn mãi không thể nào quên công ơn các Ngài. Nhân dịp mừng thọ các Cha , Thầy sắp tới, con xin gửi tâm tình này qua bài bài thơ sau đây, đặc biệt xin tạ lỗi những Cha, Thầy đã về với Chúa mà con đã vô ơn chưa một lần gặp lại để tri ân các Ngài. Con xin cúi đầu tạ tội: Em cũng xin BĐD, nếu anh em cựu KTX không có gì góp phần nhân ngày chúc thọ này, thì bài thơ dưới đây có thể là một bức tâm thư nói lên nỗi niềm tri ân, cảm tạ các Ngài , đại diện cho tất cả anh cựu KTX , nếu được. Còn không thì đây là tấm lòng khiêm tốn xin dâng các cha, thầy, một chút nỗi niềm của môt người con phiêu bạt ra đi từ ngày ấy , để đến bây giờ mới có một vài lời hèn mọn, và xem đây như một lời tạ lỗi vì sự vong ân của mình, nhất là một lỗi lầm quá lớn đối với Cha Cao, thầy Marcel, cha Vincent Lư... 

CÁM ƠN NGƯỜI
 (Kính dâng các cha, thầy đã đi qua đời con, 
nhân dịp lể chúc tho ngày 11/10/2009 tại Thủ Đức) 

Tạ ơn Chúa, cám ơn Người 
Cám ơn Cha Thánh ngàn lời thiết tha 
Nhớ xưa bao Đấng nuôi ta 
Bằng cơm, bằng chữ, kinh, ca, giáo điều
Tinh thần Cha Thánh cao siêu 
Mà nghe rất đỗi yêu kiều đời con 
Dù cho xuống núi lên non 
Làm sao quên được tình con với Ngài 
Bao năm quen áo nâu dài 
Sợi dây trăng trắng buộc hoài đời con
Con về thuở đất còn son, 
Hàng cây phượng đỏ nỉ non ve sầu 
Tưởng rằng ở đó bền lâu
Không đành con phải nói câu giã từ
Bây giờ tuổi đã năm tư
Nhớ Cha, nhớ bạn viết lên thư này

 NỖI LÒNG Ở KÝ TÚC XÁ 
Cha ơi biết nói sao đây 
Hoa tàn, nến tận, người đâu sống hoài 
Cha, thầy cũng kiếp trần ai 
Một mai Chúa sẽ bài sai đi về 
Về với Chúa , về cùng Cha
Chắc con được chút vinh hoa của Người
Nhớ lăm nhớ lắm người ơi 
Nhớ ngày chang nắng đất trời Nha trang
Con đến đó thuở bần hàn 
Quần xanh áo trắng chưa mang lần nào
Lạ người lòng thấy nôn nao 
Không sao ngăn nổi lệ trào ướt mi
Bỏ cha bỏ mẹ ra đi 
Cơm phần hai bữa, bánh mì điểm tâm
Học hành, ngủ nghỉ, ấm thân 
Cuộc đời vui sướng trăm lần hơn xưa 
Quên sao được giấc ngủ trưa 
Nằm nghe tiếng máy ai cưa bên đường
Chiều về tắm biển Bãi dương
Cha Damien Lữ luôn thương chụp hình
Lâu lâu còn được xem phim 
Thầy Thomas ở trại phong đưa về 
Ca kịch cha Lữ chẳng chê 
Bao nhiêu khúc hát dân ca đều dùng 
Đàn ca hát xướng rất sung 
Phạm Duy nhạc phẩm “Mẹ quê” khôn cùng
“Mẹ Việt nam” còn nhớ không 
Trường ca bất hủ vấn vương suốt đời
Ai chơi thì mặc ai chơi 
Văn Phương, Đình Lễ cha vời song ca 
Tập tành giọng điệu thướt tha 
Để lên sàn diễn điệu đa với người 
Nay cha đã luống tuổi đời 
Đau thương bệnh tật vẫn cười vô tư 
Bao nhiêu vốn quí ngày xưa 
Cha đem biếu hết cho dương thế này
Bản “Arirang” vẫn còn đây 
Mỗi lần nghe đến lại gây gây buồn
Nhờ cha mở túi càn khôn 
Bây giờ con mới có muôn vốn đời
Cha Cao tiếng Huế chẳng ngơi
Thương con cha chẳng đòn roi bao giờ 
Bầy con tuổi vẫn còn thơ 
Làm sao tránh khỏi ngu ngơ đầu đời
Tuổi ăn, tuổi ngủ, tuổi chơi 
Cha lo đủ thứ không vơi ngày nào
Bây giờ cha đã bình an 
Thiên thu nấm mộ, miên man vĩnh hằng
Chắc rằng Cha Thánh hỏi han
Nhỏ to bao chuyện trần gian Thiên đình
Cũng đâu quên được cha Minh
Tối ngày thủ thỉ bên cây vĩ cầm 
Người luôn sống kiếp âm thầm
Là thầy Marcel Khoát rất gần lũ con
Như người mẹ, tình sắt son
Lo ngày ba bữa no tròn chán chê 
Còn thêm có bữa gôuter 
Lâu lâu thầy đãi kem que mát đời
Cũng đâu quên được thầy Liên 
Nhớ lúc quậy phá thầy liền quất roi 
Nhớ xưa thầy dáng nhỏ nhoi
Mà nay trông thấy cũng oai tuổi đời 
Đâu rồi giờ Pháp thảnh thơi
Chỉ nghe cha kể sự đời thế nhân
Người ưa sống kiếp bụi trần
Ấy là cha Michel Luân thuở nào 
Dọc ngang một chiếc xe đam
Áo sờn, xe nát vẫn lang thang hoài
Cha nay đã khuất non đoài 
Về nơi cõi phúc xa thời đấu tranh
Làm sao quên được giọng Nam 
Ấy cha Phan châu Lý miên man thuở nào 
Lúc nào miệng cũng “mày, tao” 
Như anh em ruột ngọt ngào thân thưong 

ĐỒI PHANXICO YẾU DẤU 
Rồi đến lúc nghỉ cuộc chơi 
Đứa đi ,đứa ở, đứa nơi phương nào 
Con lên đồiThánh Phan sinh 
Mong sao cùng được qui y theo Người
Cha Pascal Tỉnh ít khi cười 
Nhưng lòng cha vẫn sáng ngời chính tâm 
Thầy Vui thì rất uyên thâm
Đơn sơ túi thượng sớm trưa đi về 
Có gì thầy nói hả hê 
Lỗi con thầy chỉ tỉ tê nhẹ nhàng 
Cha Lư số phận bẻ bàng 
Đò chưa tới bến đã sang ngang rồi 
Bây giờ cha đã nghỉ ngơi 
Nơi tầng mây thẳm, ngàn khơi xa vời 
Cha đi con cái bồi hồi 
Bài thi môn toán nhớ hoài khôn nguôi
Đệ tử viện đã mù khơi 
Làm sao quên được một thời dấu yêu
Nhớ giờ kinh mỗi sáng chiều 
Thầy Philip vẫn nhịp đều bên con
Miệng thầy chúm chím như son 
Lời kinh tiếng hát nỉ non êm đềm 
Anh em ba lớp sướng rêm
Ngày ra Hưng đạo, đêm về học chung
Nha trang, Thủ đức, Cù Lao giêng
Ba nơi chụm lại làm nên một nhà 
Tình Phan sinh thật thiết tha
Câu kinh, tiếng hát xuyên qua núi đồi,
Bay theo ngàn gió trùng khơi 
Dâng lên Thiên Chúa muôn lời ngợi ca
Xin cám ơn Người, cám ơn Cha 
Xin tri ân Đấng lìa xa cõi đời 
Xin cho con tạ ơn Người, 
Đến khi nhắm mắt vẫn một lời tạ ơn

 Sài gòn, ngày 10 tháng 9 năm 2009 
Con GIANG TỊNH 
(Nguyễn-văn-Phương, KTX năm đầu tiên 1966, và ĐTV năm 1972)